post

Định dạng Interstitial cho Mobile không tốt hơn Banner bình thường được bao nhiêu

1.Kết luận này nghe rất đáng buồn cho những người làm quảng cáo. Đúng hơn thì là một cái title rất dài : Mobile Ad Study Finds Interstitials Only Slightly Better Than Banners for Being Seen (and consumers work hard to avoid all of them) tới từ tạp chí Adweek. Bài viết đã dẫn lại các thí nghiệm về quảng cáo được thực hiện khá bài bởi Light Reaction và Bethesda, Md., lab Spark Experience trên 30 người trong phòng lab (sử dụng eye-tracking, EEG và các thiết bị khác).

Kết luận đầu tiên và vô cùng buồn rầu là con người rất giỏi trong việc ‘lẩn tránh’ quảng cáo. Họ mất 200ms để quét qua 1 quảng cáo banner, 800ms để quét qua quảng cáo Interstitial (tạm hiểu là banner/microsite full màn hình) – có nghĩa là họ không cần tới 1s (theo nghĩa đen) để bỏ qua bạn. Chưa hết, buồn cười nhất ở chỗ là họ mất nhiều thời gian hơn với Interstitial là để tìm nút X – nút tắt quảng cáo.

Digging deeper into the results, researchers found that the majority of the time people spent viewing the interstitial ad was focused on finding the ever-ellusive “X” that closes it. However, Gaudiano said the two formats end up being viewed roughly an equal amount of time if efforts to close the ads are taken out of the equation.Marty Swant

Kết luận thứ hai đáng ngạc nhiên hơn nữa. Sử dụng EEG, các nhà nghiên cứu kết luận rằng banner dù sao cũng đỡ làm phiền và tạo cảm giác xấu hơn là Interstitial (chắc do suốt ngày phải đi tìm đồng chí X để ấn nút).

Perceptual Pathway

Để giải thích cho điều này, Light Reaction đưa ra một framework được gọi là “Perceptual Pathway” nhằm nghiên cứu phản ứng của các giác quan khi nhìn thấy quảng cáo (cũng sẽ làm luôn với Native Ads). Kết quả ra sao thì chưa thấy nói, chắc sẽ phải đổi màu đổi format đổi tùm lum để test thử. Nhưng hy vọng, test sao rồi kết luận là thôi xoá nút X đi luôn thì chắc là … khóc hận.

Google Admob - Interstitial

2.Trong một diễn biến khác, Google đòi xoá label “mobile-friendly” trong kết quả tìm kiếm nếu mobile site thực hiện quảng cáo full-screen, che hết toàn bộ content. Tuy vậy, Google vẫn support định dạng này trên App và thậm chí Firebase còn hỗ trợ để trigger định dạng này dựa trên các segment khác nhau. Mình chỉ có thể hiểu được Google mạnh tay với mobile site đơn giản chỉ để giúp họ index được dễ dàng hơn chứ họ vẫn tin vào định dạng Interstitial. Để coi xem, định dạng này sẽ biến đổi tiếp thế nào, chứ đúng là trải nghiệm cá nhân 99% là đi tìm cách đóng nút X 🙁

post

Free-to-play hay Paid Game sẽ sống?

[người viết chưa từng vận hành game, chỉ biết duy nhất việc mua traffic cho web-game và mobile-game]

1.Thú vị khi tuần rồi đọc được hai bài viết trái ngược nhau từ hai nguồn có uy tín. Một bài trên Gamasutra có tên Are paid apps dead? There’s only 1 among the US 50 top-grossing, and it’s Minecraft và một bài Op-ed nói về The Limits Of Free-To-Play Game Marketing. Vì vậy nên lại cần có một session đọc/hiểu cả hai bài đó trên hệ quy chiếu những gì mình đã được biết/trải nghiệm.

2.Hãy bắt đầu bằng report tại các quán Internet cf ở Hàn Quốc. Sau 46 tháng liên tục, League of Legends (LoL) đã không còn đứng ở vị trí top nữa mà thay vào đó là Overwatch. Cần phải nhớ, LoL là game chơi miễn phí (Free-to-play, Pay-to-Experiment) trong khi để chơi được Overwatch, cần tận 60USD. Tại thời điểm lên đỉnh này, LoL chỉ còn may mắn bù lại được lượng bỏ đi (churn) bằng ngang với lượng gamer mới mỗi tuần chứ khó có thể bứt tốc đột ngột được. Lúc này, anh làm marketing đâu ấy nhỉ? Anh làm gì đi chứ anh?

Bài viết nhắc tới giới hạn của mô hình Free-to-Play (giới hạn của mô hình, again), trong đó nói về việc của marketing sẽ đánh vào vòng ngoài (gom nhiều thật nhiều user – đa phần miễn phí, số ít trả tiền) chứ không thực sự có thể tác động tới vòng trong (kích nạp, kích tiêu…) Cá nhân mình đồng ý với quan điểm này, traffic/marketing không quá thần thánh để tác động được tới người chơi trong mô hình này :

  • Tỷ lệ RR7/NRU có thể khác biệt nhiều so với từng nguồn, loại creative, cách làm marketing nhưng tỷ lệ RR30/RR7 sẽ đồng nhất hơn rất nhiều. Lý do là lúc đó tác động từ nguồn traffic không còn ý nghĩa, chỉ có trải nghiệm của game thủ với game/content là có ý nghĩa.
  • Trải nghiệm/notify in-game, cộng đồng game … luôn mạnh hơn trải nghiệm đến từ nguồn phát đại chúng. Khi chạy re-engage, luôn có một câu hỏi đặt ra trong đầu là chúng nó yêu nhau, chúng nó hết yêu, chúng nó bỏ nhau. Mình là người thứ 3 nói gì được để chúng nó quay lại? Nói gì để mạnh hơn được sự chia rẽ ấy?

Để giải quyết mô hình này, cần ngưỡng mộ những gì Blizzard đã làm với Hearthstone hay SuperCell đã chuyển hoá từ cùng một IP sang hai lối chơi khác nhau (Clash of Clan thành Clash of Royale). Hãy xem từ khoảng 3:19 trở đi để coi cảnh chuyển từ CoC sang CoR ấy, mình xem xong mình thực muốn khóc luôn. Còn không, làm ra một sản phẩm đỉnh cao cỡ Overwatch để mọi người phải trả tiền ra mua. Lúc đấy thì giá trị của marketing sẽ đắt xắt ra miếng (không đồng nghĩa với việc ông làm mkt vênh mặt lên kêu tại mình giỏi, không có content tốt thì ông ngồi đấy mà vênh mặt!)

3.Trong khi đó, Gamasutra lại đưa một góc nhìn khác hẳn.

Next Games’ Sulka Haro took to Twitter this morning to complain that “paid apps are truly dead” after he noticed a notable discrepancy: the #1 best-selling premium app in the US App Store was hovering around #237 in the list of top-grossing apps, which is dominated by free-to-play games like Pokemon Go and Game of War: Fire Age

Nếu bạn thắc mắc, Overwatch và LoL đang là game chơi trên PC, không phải chơi trên Mobile. PC vs Mobile, dường như đang là hai câu chuyện trái ngược.

4.Có quá nhiều biến số để nói lên được kết luận gì từ trải nghiệm cá nhân khi đối chiếu với sự đối lập kể trên. Sự sẵn sàng của người chơi, sự sẵn sàng của thiết bị, độ chín của sản phẩm, khả năng marketing, độ liều của nhà phát hành … rất khó để … chém gió khi chỉ ngồi tại một thị trường mà Talking Tom và con giun đũa Slither làm mưa làm gió (chưa chắc Pokemon Go đã vượt qua được số download so với hai bạn mèo và giun trong 3 tháng tới đâu nhé). Thị trường game là thị trường rất khắc nghiệt và mọi cuộc lật đổ đều thú vị (lẫn mặn chát) – tiếp tục quan sát, tiếp tục quan sát.

 

post

[confession] Native Ads là gì vậy?

[confession đứng trên góc nhìn của một người nuôi sống bản thân hàng ngày bằng việc chạy quảng cáo]

1.  Trong 6 tháng nay nghe rất nhiều về Native Ads. Tò mò liệu nó có phải là một thuật ngữ marketing được tạo ra theo kiểu “bình mới rượu cũ” để bán quảng cáo hay không. Cho tới khi đọc được báo cáo của Online Trust Alliance (OTA) thì mới nhất quyết phải viết một bài blog thú nhận về chuyện : Xin lỗi các chế, em sống bằng việc chạy quảng cáo nhưng vẫn không thể hiểu được Native Ads nghĩa là sao các chế ạh.

Quay trở lại báo cáo của Online Trust Alliance, trong thông cáo báo chí được đăng tải ngày 03Aug2016 (nguồn nàh), họ khẳng định thế này (để nguyên khỏi dịch cho mất công) :

The analysis of the native advertisements on the top 100 news websites found that 71 percent earned failing scores for disclosures, delineation and discoverability, thus not providing consumers the ability to easily discern editorial from ads. Native advertising refers to website content that is funded and produced outside the publisher’s editorial review or influence, yet is designed to appear similar or homogenous to editorial on that site…OTA

Thông cáo báo chí này giúp mình xác nhận một chuyện rõ ràng Native Ads không phải là quảng cáo có định đạng giống/được trộn lẫn y chang với định dạng của bài viết (như một con tắc kè bông/hoa – không phân biệt được tắc kè với cảnh quan xung quanh là sai). Theo đó, OTA đã đưa hẳn ra cả một checklist để đảm bảo người dùng có thể nhận biết được chính xác đó là quảng cáo chứ không nhận biết nhầm đó là nội dung của quảng cáo. [Read more…]

post

Đừng quá tự tin về trí nhớ của mình

1.Đây cũng là kết luận đầu tiên trong phần đầu của cuốn The Organized Mind mình đang đọc dở. Hôm nay đọc thêm một bài trên Salon với tiêu đề gốc Not all memories really happened: What experts wish you knew about false memories nên note luôn cho khỏi quên (cuốn kia dạy rằng vì trí nhớ là lộn xộn nên bạn cần … outsource bộ nhớ của mình ra ngoài cho dễ quản lý).

2.Bài viết có một cụm từ khoa học được gọi là “False Memory“. Bạn quẳng mọi thứ một cách có ý thức lẫn vô thức vào trong não của mình, lâu lâu gọi lại phần bộ nhớ đó và tự tin rằng mình đang có chính xác điều mình đã từng trải qua. Sai toét.

Just because someone tells you something with a lot of confidence and detail and emotion, it doesn’t mean it actually happened. You need independent corroboration to know whether you’re dealing with an authentic memory or something that is a product of some other process.Elizabeth Loftus

Do vậy, một trong những cách có thể recall lại những gì mình cần nhớ là cố gắng gợi nhớ nó dần dần, thay vì hỏi và trả lời trực tiếp. Ví dụ, nếu bạn hỏi anh A về tóc của chị B, một người mà anh A mới gặp tuần rồi là “Màu tóc của chị ấy là màu gì?” hay tệ hơn “Chị ấy tóc đỏ phải không?” sẽ cực kỳ dễ nhận được câu trả lời sai.

Vậy, 04 lời khuyên từ Chris French để bạn bớt ảo tưởng về trí nhớ siêu phàm của mình :

  1. Bạn nhớ về tổng quan sự việc nhiều hơn là nhớ về chi tiết của sự việc đó (trừ khi chi tiết đó có gì ấn tượng mạnh với bạn)
  2. Bạn sẽ hay ‘thêm thắt’ một số chi tiết không có thật vào câu chuyện trong đầu nếu không nhớ được chính xác.
  3. Bạn không chỉ ‘thêm thắt’ vào các sự kiện bạn đã chứng kiến, bạn thậm chí có thể bịa ra cả một sự kiện và thêm thắt thêm vào đó.
  4. Bạn không thể phân biệt được mình đang “thêm thắt” vào hay không

Nghe khá tệ nhỉ. Cũng đừng painful. Bớt ảo tưởng, ghi chép lại nhiều hơn, viết blog nhiều hơn, tổ chức mọi thứ khoa học hơn đi bạn ơi.

post

Mặt tối của retargeting

Lược dịch từ bài gốc : The Dark Side of Retargeting: How Retargeting Could Be Killing Your Sales

Lý do mình dịch bài này bởi cách đây 3 năm, khi thực sự quay lại với phần User Acquisition, Retargeting lúc đó được coi như một thứ mới, một thứ nhiệm màu mà ai cũng nhắc tới. Nhưng rồi, trong suốt quá trình chạy UA cho game, mình thực sự gặp phải khá nhiều rào cản khi muốn thực sự chạy một retargeting campaign đúng nghĩa. Do vậy, cá nhân mình rất chia sẻ với bài viết ở trên.

Và nếu bạn nào chưa rõ retargeting và remarketing khác nhau chỗ nào, hãy đọc lại bài này nhé.

1.Giá để Retargeting có thể rất mắc

Một trong những giả định cho việc sử dụng re-targeting là cho rằng sử dụng kỹ thuật này sẽ giúp giảm giá để acquire user, đặc biệt với các user có mức độ cạnh tranh cao (across các kênh, bao gồm user tới từ từ khoá có mức độ cạnh tranh cao hay user trên FB…)

Tuy vậy, đây có thể là giả định sai lầm. Đối với các user có tiềm năng nhưng khó acquire, retargeting giúp chúng ta có thể cá nhân hoá thông điệp dành riêng cho họ một cách tinh tế hơn. Bù lại, chi phí có thể mắc hơn so với việc acquire user thông thường và ROI sẽ cao hơn.

Keynote : Burn đúng, burn nhiều và thu lại nhiều.

2.Retargeting có thể làm user bực mình và phát chán với nhãn hàng

Response to Retargeted Ads

Hình ở trên lấy từ một nghiên cứu của InSkin Media năm 2014. Công bằng mà nói, nếu xây dựng scenario để retarget không khéo, user sẽ rất dễ bực mình. [Read more…]

post

Không ôm tablet lên giường cho dù có bật chế độ Night Mode

Mắt rất là quan trọng đối với người sử dụng máy tính/tablet/điện thoại. Thường thì tác hại dễ thấy nhất khi sử dụng mấy cái này nhiều là bị mỏi mắt + khô mắt do số lần chớp mắt ít hẳn đi. Ngoài ra thì tác hại của “blue light” gây kích thích não dẫn tới việc khó ngủ khi sử dụng máy tính/tablet/điện thoại vào buổi tối cũng rất nguy hiểm.

Với máy tính, mình cũng có sử dụng Flux để giải quyết vấn đề này. Flux giúp chuyển tone màu theo thời gian để đảm bảo giảm thiểu tác hại của blue light khi phải làm việc liên tục cả buổi tối với máy tính. Gần đây thì thấy iOS cũng có update một chức năng tương tự (Night Shift) nhưng dù gì các nhà khoa học cũng khuyên là không nên mang tablet lên giường.

Chuyện này cũng khá logic và mình cũng đã cố gắng practise bằng việc không mang thiết bị điện tử lên giường ngủ. Lý do đơn giản là ngay cả khi không có blue light, cũng có nhiều thứ quá hấp dẫn trên đó khiến mình không thể ngủ đúng lịch được – hoặc chỉ ngủ khi mắt đã rất mỏi. Chuyện này cũng dẫn tới việc giấc ngủ sẽ không sâu, dễ bị thức giấc (coi nghiên cứu tại đây). Chưa kể, ngay sáng hôm sau, bạn thức dậy với thiết bị điện tử ngay bên cạnh và lại bắt mắt của mình phải hoạt động mạnh ngay lập tức, trong khi việc cần làm hơn là dậy đi tập thể dục. Câu chuyện có thể tệ hơn với kính thực tế ảo – VR. Ngày qua ngày, mắt bạn cứ mệt dần mệt dần, cơ thể bạn thì lại ít tập thể dục hơn và boom – bạn tèo rồi đó.

 

Vậy, cố mà để thiết bị điện tử xa khỏi giường ngủ. Và nếu được, dùng đồng hồ báo thức cổ điển để tránh việc bật dậy tắt chuông từ điện thoại và sau đó ôm lấy điện thoại không chịu tập thể dục vào mỗi sáng. Rảnh thì coi kỹ tác hại của blue light trong video trên hen.

post

P&G cho rằng cách targeting của Facebook không phù hợp với họ

Lại một tin shock nữa (nguồn ở đây – AdAge), làm mình đọc tin xong muốn note lại luôn để coi thế nào.

Tin này không có nghĩa rằng P&G sẽ cắt giảm ngân sách quảng cáo Facebook (không có thông tin chính thức). Tin này chỉ có nghĩa rằng một trong những tập đoàn FMCG lớn trên thế giới (và có mức spending khủng) không tin vào khả năng targeting của Facebook. Do vậy, họ sẽ thay đổi chiến lược quảng cáo trên Facebook và quay trở lại với các nhóm target rộng hơn.

Chính xác thì CMO của họ (Marc Pritchard) đã nói vầy :

“We targeted too much, and we went too narrow,” he said in an interview, “and now we’re looking at: What is the best way to get the most reach but also the right precision?”Marc Pritchard

P&G nhận định rằng, cuối cùng thì target chặt (chính xác hơn) cũng mang lại cùng một kết quả cho họ (so với target rộng) nhưng lại tốn nhiều tiền hơn rất nhiều. Và, do vậy :

“The bigger your brand, the more you need broad reach and less targeted media,” he said. Targeting is paramount for advertisers trying to get users to download a game app or a small business trying to appeal to local customers.Marc Pritchard

Vì vậy, đừng nên bỏ hết trứng vào một giỏ. Hãy kết hợp một cách thông minh và tận dụng được phần tốt nhất của kênh, đừng cố bắt kênh làm những gì mà nó làm không tốt.

Update 17/8

Fiksu viết bài này khá hay Targeted Facebook campaigns not working? Don’t blame targeting… diversify! để nói về case này.

post

Chơi game còn tốt hơn lướt Facebook

Trong một nghiên cứu mới đây tại Úc (nguồn nàh) trên số lượng mẫu là 12.000 học sinh trung học, kết quả cho thấy học sinh có chơi game online (một mình hoặc nhiều mình) có kết quả môn Toán cũng như các môn khoa học khác cao hơn mức trung bình.

Alberto Posso, nhà kinh tế học tới từ RMIT đã nói rằng nghiên cứu này không chỉ ra rằng chơi game giúp người ta thông minh hơn mà chỉ nói rằng có mối liên quan giữa các học sinh có kết quả tốt hơn với game online (xin nhắc lại vụ án Correlation does not imply causation! – Yêu nhau tình cờ). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các học sinh sử dụng Facebook có kết quả thấp hơn mức trung bình.

Ông Posso có giải thích như thế này :

Online games foster a range of skills that promote higher order thinking, which could potentially lead to improvements in math and literacy,” stated Posso, though he added that “it could be argued that people who are good at math and reading also enjoy games that allow them to employ, or even sharpen these skills.”Alberto Posso

Hoặc là nói cách khác, bọn giỏi Toán sẽ kiếm mấy trò hack não hơn là suốt ngày lượn Facebook. Mình thì (đang làm trong công ty game) thấy cả chơi game và lượn Facebook đều tốn thời gian, nhưng ít ra chơi game có mục tiêu rõ ràng, tập trung hơn (biết chính xác mình đang làm gì), điều chỉnh cảm xúc được tốt hơn. Cả hai đều có hại nếu bạn chơi game hoặc lượn FB quá nhiều. Hồi xưa, chơi game giúp mình biết được khá nhiều từ tiếng Anh, rất khoái.

 

post

Google Analytics đã huỷ hoại ngành marketing như thế nào?

Thú thật là sáng đọc tiêu đề này trên TechCrunch (bài gốc nàh) xong cũng thấy shock. Nhưng cần phải tập tiếp nhận những gì không quen thuộc, thậm trí là trái ngược với mình một cách thoải mái hơn, vậy nên đọc kỹ và học được một vài điều sau.

Phân biệt giữa chiến lược, kênh và nội dung deliver trên kênh. 

If a tech marketer creates a video and spreads it on Facebook, here is what he is doing:

Strategy = Advertising (one of the parts of the traditional Promotion Mix)

Content = The video itself

Channel = Facebook

If someone creates informational material that aims to rank highly in Google search results, here is what he is doing:

Strategy = SEO (which may need to be added to a new, modern Promotion Mix)

Content = The blog post

Channel = The company’s blog/Google search resultsSamuel Scott

Cái này, hồi xưa làm content + social media cũng thấm rất rõ. Kênh là ống nước, content là nước. Hai thứ không thiếu nhau được. Nước bẩn thì ống gì cũng không giải quyết được, trừ khi người đọc tự có bộ lọc của mình.

Tác giả (có vẻ) đổ tội cho Google Analytics làm hiểu sai 03 khái niệm này. Việc này dẫn tới kết luận (rộng, imo) là không có cái gọi là traditional marketing và digital marketing, tất cả chỉ là marketing (theo kênh nào thôi). OK, ko bàn cãi nhiều.

Google Analytics - Default Channel Grouping

Điểm thú vị trong bài viết bắt đầu tới từ chỗ này. Tác giả đổ lỗi cho Google Analytics đã thay Promotion Mix truyền thống bằng các kênh mặc định như hình trên theo ý của Google. Để biện luận cho quan điểm của mình, tác giả đưa ra ví dụ về “kênh” Social : [Read more…]

post

Hiểu về Mobile View-ability

Mobile hot mà mobile viewablitity (for ads) còn hot hơn nữa. Quảng cáo của tôi thực sự được bao nhiêu người xem, những người đó là ai? Đó là một câu hỏi khó trả lời trên môi trường web và càng khó trả lời trên môi trường mobile – một môi trường rất phân mảnh. Vậy nhưng nếu không trả lời được thì làm sao có cửa cho programatic ads?

Infographic - Mobile Viewability

 

Phía trên là một infographic khá thú vị tới từ The Mobile Majority. Infographic được chia làm 4 phần :

  1. Timing : chỉ được phép có dưới 1/2s giao tiếp qua nhiều tầng công nghệ khác nhau để có thể hiển thị được quảng cáo. Phần này phải đảm bảo quảng cáo được hiển thị đúng (chứ không phải bị che/đè lên bởi một thứ khác) và có người xem đúng (đi từ việc tracking thông tin).
  2. Placement : ngay kể cả khi quảng cáo hiện ra, người ta vẫn có thể không coi vì đơn giản nó được nhét vào một xó xỉnh nào đó khó nhìn thấy. Chưa kể chuẩn kích thước quảng cáo của VN khác với thế giới (càng ngày càng gần giống rồi) khiến cho đôi khi quảng cáo được hiện ra trớt quớt.
  3. Delivery : tha hồ nhiều thông số từ máy, mạng Internet tới loại quảng cáo, app/trình duyệt.

Điểm lại, quảng cáo được coi là hiển thị khi có ít nhất 50% diện tích quảng cáo hiển thị trên màn hình quá 1s với ảnh và 2s với video.

Mới đây, tháng 6 năm 2016 thì IAB đã chính thức đưa ra định nghĩa mới về Viewable Ad Impression trên Mobile. Bạn nào muốn nghiên cứu kỹ (có cả ví dụ tính trong đó luôn) thì click vào đây coi nhé.